Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng

Phương pháp siêu âm điều trị áp dụng trong các khoa y học cổ truyền

Trong những năm gần đây các bệnh lý về  cơ xương khớp, thoái vị đĩa đệm , trong đó phương pháp siêu âm điều trị được ứng dụng để điều trị các bệnh lý về  cơ xương khớp thần kinh tại các bệnh viện y học cổ truyền đang là phương pháp được khá nhiều các bác sĩ áp dụng điều trị cho các bệnh nhân của mình đã và đang đạt đượt những hiệu quả nhất định, chính vì vậy đây cũng là phương pháp khá tin cậy cho người bệnh mắc các chứng bệnh này.

sonic 1

Máy siêu âm điều trị được nhập khẩu bới Hadimed

Để hiểu rõ hơn về phương pháp điều trị này, trong bài viết này HADIMED xin được phân tích phương pháp siêu âm điều trị sử dụng máy siêu âm điều trị tại các bệnh viện nói chung và đặc biệt các khoa y học cổ truyền nói riêng.

Đây là một phương pháp kỹ thuật rất cao trong điều trị các bệnh xương khớp, thoát vị đĩa đệm, phương pháp siêu âm điều trị đã được áp dụng rộng rãi trong các bệnh viện tỉnh thành phố trong cả nước, khi bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này, trong quá trình điều trị bệnh nhân sẽ cảm nhận được rõ ràng sự giảm nhẹ của cơn đau và nhanh chóng trở lại với cuộc sống bình thường. Quá trình điều trị khoảng 4 – 10 ngày.

phuong-phap-sieu-am-dieu-tri

Bệnh nhân điều trị bằng phương pháp siêu âm điều trị

Hiệu quả của phương pháp này cao hơn rất nhiều so với các phương pháp thông thường do sử dụng các sóng siêu âm ở tần số cao tạo ra các rung động xoa bóp mạnh mẽ bằng các hiện tượng nén , co , kéo và tác động đến sự giãn nở ở cơ diển ra sâu bên trong cơ thể, tác dụng này sinh ra sau quá trình co giãn ở các tổ chức của vùng sóng siêu âm tác dụng.

Để sóng siêu âm lan truyền trong cơ thể cần bôi một lượng Gel vào phần tiếp xúc của da và đầu dò siêu âm do không khí không phải là môi trường điều kiện để lan truyền sóng siêu âm, tác dụng cảu Gel là loại bỏ không khí giữa da và đầu dò.

Bên cạnh đó, hiện tượng xoa bóp ti thể tổ chức sinh ra nhiệt do ma sát, sự sinh nhiệt trong siêu âm không đồng nhất hiệu quả được nhận thấy ở mặt phân cách giữa các mô như giãn mô mỡ, mô cơ và màng ngoài xương.

Nhiệt do máy siêu âm trị liệu phát sinh cũng có tác dụng sinh lý như các nguồn nhiệt khác, nó làm tăng hoạt động của tế bào, giãn mạch, gia tăng tuần hoàn, tăng chuyển hóa, tăng quá trình đào thải và giải quyết được hiện tượng viêm.

Dòng điện một chiều không đổi ( Điện Xung – Điện Phân ) – ứng dụng trong trị liệu

  1. Nguồn của dòng điện một chiều không đổi

Dòng điện một chiều không đổi  ( Còn gọi là dòng Galvanic ) là dòng điện có cường độ và chiều không đổi theo thời gian. Cần chú ý hai đặc trưng : Chiều và cường độ. Dòng điện của Pin, Ắc Quy dòng điện ra qua bộ chỉnh lưu là dòng điện một chiều không đổi. Phân biệt với dòng điện xung một chiều không đổi nhưng có thể thay đổi cường độ, dòng điện này được dùng trong các máy kích thích thần kinh cơ

2. Điện thế sinh vật của tổ chức sống

Sự hoạt động của tổ chưc sống ( Tế Bào, Cơ quan, toàn thân ) đều gắn liền với hiện tượng điện sinh vật. Giữa tế bào chất ( Nội tế bào ) và môi trường ngoài tế bào luôn có sự trao đổi chất dinh dưỡng và điện giải qua màng tế bào. Điện thế màng tạo nên một hiệu điện thế cỡ – 60mV ở trạng thái nghỉ nên còn gọi là điến thế nghỉ, mặt ngoài màng tích điện dương và mặt trong tích điện âm. Trong tế bào số Ion K+ cao hơn và Na+ thấp hơn ngoài tế bào, có khuynh hướng K+ đi ra ngoài và Na+ đi vào tế bào. Khi bị kích thích, tế bào chuyển sang trạng thái hoạt động do điện tích mặt ngoài và trong màng tế bào thay đổi, điện thế màng trở nên dương hơn so với hiện tượng khử cực và làm thay đổi rất nhanh đến trị số dương tối đa, xấp xỉ +25mV, gọi là điện thế động. Sau đó bắt đầu hiện tượng tái cực và trở lại trạng thái ban đầu. Hiện tượng sinh vật trên đây là cơ sở trong chẩn đoán điện não, điện tim, điện cơ….. và đặc biệt là trong trị liệu.

hwt1458546932

Máy điện xung điện phân

3. Một số quá trình lý học trong tổ chức sống dưới tác dụng của dòng điện một chiều không đổi

Sự truyền dẫn điện trong tổ chức là do chuyển dời ion, khả năng dẫn truyền phụ thuộc nhiều yếu tố như : lượng dịch thể, hằng số điện môi của tổ chức, sự có mặt của các màng ngăn cách ( Màng tế bào, màng cơ, vách ngăn các cơ quan…)

Điện trở của da cao cũng cản trở dòng điện vào tổ chức.

Phần tổ chức cơ thể giữa hai điện cực khi có dòng điện một chiều không đổi chạy qua xuất hiện sự chuyển dời ion : các ion dương ( Anion ) chạy về phía điện cực âm Catot và các ion âm ( Cathion ) chạy về phía điện cực dương Anot. Cấu trúc tổ chức cơ thể như đã nói trên là không đồng nhất lại có các màn ngăn cách có thể coi như các ô độc lập với nhau nên sự chuyển dời ion không được tự do dưới lực điện trường như trong dung dịch điện phân. Sự tích tụ các ion ở màng tạo nên hiện tượng cực hóa hay cực phân. Cực hóa làm tăng điện trở của tổ chức và giảm  cường độ dòng điện đi qua tổ chức. Một thí nghiệm ở da cho thấy, khi đã cắt nguồn điện một chiều không đổi còn tồn lưu một dòng điện ngược chiều với dòng điện nguồn khoảng 10 – 20 uA trong vòng 1 – 2 phút. Hiện tượng cực hóa là hiện tượng  cơ bản của dòng điện một chiều không đổi trong tổ chức cơ thể có ý nghĩa đặc biệt về tác dụng sinh lý.

Quý khách hàng có thể tìm hiểu thêm về : máy siêu âm điều trị

Quá trình khuếch tán và thẩm thấu : Do cực hóa  các ion tích tụ ử mặt màng ngăn và khuếch tán qua màng gọi là hiện tượng khuếch tán, nhờ khuếch tán nên cân bằng ion được lập lại và hiện tượng cực hóa mất đi. Dòng điện một chiều không đổi đã làm tăng hiện tượng cực hóa, Quá trình thẩm thấu sảy ra liên tục trong tổ chức sống, là hiện tượng các phân tử nước hoặc các dung môi khác khác đi chuyển qua màng tế bào. Dòng điện trong một chiều không đổi làm thay đổi mật độ ion của tổ chức nên ảnh hưởng đến độ thẩm thấu của màng.

Bằng thực nghiệm đơn giản theo nguyên lý bình thông nhau màng xốp đã chứng minh được : khi có dòng điện một chiều không đổi qua dung dịch thì các phân tử nước có khuynh hướng chuyển về cực âm – gọi là hiện thượng Catophoresis. Sự chuyển dời ion có thể chứng mình bằng thí nghiệm với màng bám thấm :

mang-bam-tham-may-dien-xung

 

 

Tác dụng của Điện Xung trong trị liệu

  1. Định nghĩa Điện Xung

Dòng điện xung là dòng điện do nhiều xung điện liên tiếp tạo nên. Xung điện là dòng điện chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn, xen kẽ giữa các xung là khoảng nghỉ hoàn toàn không có dòng điện. Các dòng điện xung có thể là dòng một chiều hoặc xoay chiều, Tín hiệu xung điện là tín hiệu điện áp hay dòng điện biến đổi theo thời gian một cách rời rạc (tức không liên tục). Tín hiệu xung có thể là một dãy theo xung tuần hoàn theo thời gian với chu kỳ lặp lại, hay chỉ là một xung đơn xuất hiện một lần, có cực tính (- âm, + dương) hoặc cực tính thay đổi.

Tên của dòng điện xung được gọi tên của xung điện hoặc theo cách mà người ta tạo ra dòng điện xung hoặc theo tên của tác giả tìm ra dòng điện xung đó.

  1. Đặc tính của dòng điện xung trong trị liệu

Một dòng điện xung được cấu thành từ các yếu tố cơ bản sau đây:

– Dạng xung tạo nên dòng xung đó

– Tần số dòng

– Biên độ dòng

– Cách pha trộn xung ( điều biến xung )

  1. Tác dụng của dòng điện xung trong trị liệu

3.1 Tác dụng giảm đau và giảm trương lực cơ của các dòng điện xung

Dùng các dòng điện xung có cường độ tăng từ từ, tần số cao, loại dòng như Diadynamic, Trọbert, Burst – TENS… có tác dụng giảm đau rõ rệt, giảm trương lực cơ co thắt, thư giãn cơ. Tác dụng giảm đau của các máy điện xung điện phân được các bác sĩ áp dụng khá nhiều trong vật lý trị liệu, phục hồi chức năng sau các chấn thương.

3.2 Tác dụng kích thích thần kinh cơ của các dòng điện xung.

Tác dụng của dòng điện xung Các dòng điện xung có tần số thấp, cường độ tăng nhanh, loại dòng như dòng tam giác, chữ nhật, AMF, giao thoa, kiểu Nga… có tác dụng kích thích thần kinh cơ, làm tăng dẫn truyền thần kinh, tăng trương lực cơ, tăng khối lượng cơ, đây là tác dụng chính của máy kích thích thần kinh cơ .

hwt1458546932

Công dụng sóng siêu âm trong Y học ( Phần 2 )

Trong bài viết ở phần 1 : Công dụng sóng siêu âm trong Y Học ( phần 1 ) chúng ta đã tìm hiểu về sóng âm cũng như phân loại sóng âm trong môi trường thực tế.

Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu về Sóng siêu âm và ứng dụng của sóng siêu âm vào điều trị các bệnh lý y học.

1. Tìm hiểu sóng siêu âm

Sóng siêu âm  được đưa vào sử dụng trong y học điều trị thông thường  có tần số từ 700 KHz đến 50 MHz trong đó siêu âm chẩn đoán sử dụng các tần số từ 2 MHz đến 50 MHz.

Sóng siêu âm thường được sử dụng trong

Chùm sóng siêu âm có 2 vùng:

  • Trường gần (hay vùng Fresnel) : là vùng mà các chùm tia siêu âm đi song song nhau,
  • Trường xa (hay vùng Fraunholer) : là vùng mà chùm tia siêu âm bị phân kỳ. Tác dụng điều trị chủ yếu ở trường gần. Độ dài của trường gần phụ thuộc vào bán kính đầu phát và tần số siêu âm

cam-bien-song-sieu-am

2. Sóng siêu âm trong chẩn đoán hình ảnh

Hiện nay Các máy sử dụng sóng siêu âm nó vận dung sóng siêu âm với nhiều phương thức phức tạp,tuy nhiên thì Các máy siêu âm điều trị  cũng dựa vào các thành phần chính : đầu dò (transducer) , bộ xử lí ,và hiển thị kết quả thu được.

a. Đầu dò là nơi phát ra sóng siêu âm và ghi nhận lại sống phản xạ lại (echo)

Nguyên tắc dựa vào tinh thể áp điện (piezoelectric crystals) máy biến đổi trực tiếp từ năng lượng điện sang năng lượng cơ học và ngược lại. Nếu như theo chiều hướng thuận, có nghĩa là tác dụng lực lên vật thì sẽ sinh ra điện và ngược lại là áp điện nghịch: tác động hiệu thế vào vật thì sẽ sinh ra công biến dạng làm biến đổi lực .

image description

image description

 

b. Xử lí tín hiệu và hiển thị

Xung điện qua bộ xử lí sẽ được khuếch đại và xử lí để biến thành tín hiệu điện và được hiển thị lên màn ảnh tương ứng với cấu trúc phản xạ siêu âm.

 

Công dụng sóng siêu âm trong Y học ( Phần 1 )

 

 Tìm hiểu về Sóng âm trong môi trường tự nhiên

Sóng âm bản chất của nó chúng ta có thể coi là sóng cơ học, sóng âm tuân theo mọi quy luật của sóng cơ , có thể tạo ra sóng âm bằng cách tác động một lực cơ học vào môi trường ( Môi trường truyền âm ).

Hình bên dưới là hình biểu diễn của sóng, nó là một tập hợp của các lần nén và dãn thay đổi tuần tự theo dạng hình sin, trong đó các đỉnh sóng thể hiện áp lực cao nhất còn các đáy sóng thể hiện áp lực thấp nhất.

bieu-do-song-am

H1 : Biểu Đồ  Sóng âm

Sóng âm được phân loại theo 2 cách là phân loại sóng âm theo phương dao động phân loại sóng âm theo tần số.

Phân loại sóng âm theo phương dao động

Phân loại theo phương dao động được phân loại sóng âm thành 2 dạng chính : Sóng dọc và sóng ngang

Sóng dọc : Phương dao động của tia sóng trùng với phương dao động của các phần tử môi trường ,  Sóng dọc xuất hiện trong các môi trường chịu biến dạng về thể tích, do đó nó truyền được trong các vật rắn cũng như trong môi trường lỏng và khí

Sóng ngang :  là sóng mà phương dao động của các phần tử của môi trường vuông góc với tia sóng. Chúng ta có thể thấy sóng ngang trong các môi trường có tính đàn hồi cao như các vật thể rắn, kim loại

Phân loại sóng âm theo tần số

Sóng âm được phân loại theo tần số, các sóng âm có các dải tần số khác nhau, theo tần số sóng âm được chia làm 3 phần :

song-sieu-am

  • Sóng Siêu Âm : Sóng âm có dải tần số từ f  >20 kHz

Sóng âm có ứng dụng rất lớn đặc biệt là trong y học, sóng siêu âm áp dụng trong y học thông thường  có tần số từ 700 KHz đến 50 MHz trong đó siêu âm chẩn đoán sử dụng các tần số từ 2 MHz đến 50 MHz, được áp dụng trong Máy siêu âm điều trị .

Máy siêu âm điều trị 2 đầu phát – HADIMED

  • Sóng âm tần số thấp : có dải tần số từ f < 16Hz

Các sóng ở dải tần này ít có ứng dụng trong dân dụng mà chủ yếu sử dụng  trong một số trường hợp  chúng được dùng cho liên lạc quân sự với tàu ngầm.

  • Sóng âm thông thường ( Sóng âm tần số nghe thấy được ) : Sóng âm có dải tần số từ f = 16Hz – 20 kHz.